Hồi ký (1)




Ông Năm gửi chút hồi ký lúc còn bé để các cháu đọc cho biết gốc tổ tiên.

======

(1)


Tôi, Nguyễn Ngọc Hoàng, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1931, nhằm ngày lễ Đức Maria lên trời, nhưng trên giấy tờ sử dụng cho đến ngày nay lại ghi là ngày 25 tháng 8 năm 1931, vì khi tôi vào tu viện Dòng Thánh Giuse, trong khi ghi tên, con số 1 (viết tay ở Việt Nam có kẽ ngang ở dưới) được nhận lầm là số 2. Về sau, khi tôi về thăm cha mẹ tôi, tôi xem lại giấy khai sinh của tôi (mới bắt đầu có sổ bộ ở Việt Nam được viết bằng chữ Hán) thì thấy rõ là tôi sinh ngày 15 thay vì ngày 25.

Quê cha mẹ tôi ở thuộc về giáo xứ Gò Thị, nơi truyền giáo lâu đời và cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes, vị thừa sai tông đồ độc đáo người Pháp đã bôn ba ở đây rất nhiều. Quê tôi nằm trên bán đảo Phương Mai cách thành phố Qui Nhơn về phía bắc bằng đầm Thị Nại và sông Gò Bồi (Côn), Vì cách đầm Thị Nại, việc đi lại với các nơi khác khó khăn nên cũng có lúc quê tôi tách ra làm một giáo xứ độc lập, gọi là xứ Hòa Bình cùng với các họ đạo khác nhỏ rải rác lân cận, nhưng thường được gọi là Xóm Chuối, vì cây chuối mọc nhiều dọc phía tây bãi cát trắng tinh dài cả 10 cây số nối liền Núi Bà với Núi San Hô tạo thành bán đảo. Bề rộng bán đảo có chỗ rộng vài cây số. Khí hậu rất tốt, mát mẻ quanh năm nhờ nằm giữa biển Thái Bình Dương và sông Côn (Gò Bồi). Tôi vẫn nhớ quê nếp sống mộc mạc, yên tịnh này mãi, và lúc còn nhỏ nhiều đêm cùng bè bạn ngủ trên bãi cát trắng tinh, thích thú vô cùng! Nhiều linh mục, sư huynh, nữ tu cũng như du khách đã đến đây đều thấy ái mộ không khí mát mẽ và người dân hiền hòa.

Có thể nói vùng Gò Thị tập trung đông số người công giáo nhất của Địa phận Đàng Trong (sau này gọi là Địa phận Qui Nhơn, do Đức Cha La Motte coi sóc, trụ sở tại Gò Thị) một trong hai địa phận đầu tiên mà Giáo hội cho thành lập ở Việt Nam cùng với Địa phận Đàng Ngoài (sau này gọi là Địa phận Hà Nội do Đức Cha Pallu coi sóc) theo thỉnh nghị của Cha Đắc Lộ, nhà truyền giáo vĩ đại và là ân nhân số một của Việt Nam qua việc đặt cơ sở vững chắc cho chữ Quốc ngữ, lối viết dùng mẫu tự La Mã mà ở Á Châu các nước khác không có cái may mắn tiện lợi như thế cho việc phổ biến văn học và nền văn minh tiến bộ quốc tế, cũng như cho việc ấn loát sách vở và sử dụng trên máy điện toán. Một Công đồng Gò Thị rất xưa được ghi trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Qui Nhơn trong lịch sử nhắc đến khi Nguyễn Nhạc chiếm thành của chúa Nguyễn thực sự ở nơi ngày nay gọi là thành Bình Định, nơi các quan đầu tỉnh xưa đóng trụ sở; thành Qui Nhơn hiện tại là do người Pháp lập về sau làm để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định, có quan Công sứ Pháp đóng ở đó, kiêm coi nhiều tỉnh lân cận nữa. Gò Thị là nơi cũng đẫm nhiều máu hang nghìn giáo dân tử đạo qua các cơn bách hại thời vua chúa và Văn thân. Hai thánh Giám mục Xi-tê-pha-nô Thể (Cuénot) và An-rê Thông (địa phương gọi là Thuông) tử đạo ở xứ Gò Thị. Chắc chắn tổ tiên tôi cũng có nhiều người đã chết vì đạo.(vậy tôi là con cháu các thánh đó!)

Họ đạo Xóm Chuối nhỏ bé chỉ vài trăm giáo hữu thôi ở san sát nhau dọc bãi cát, mà trong đó cha tôi và ba ông cậu làm câu biện trong xứ. Cha tôi là con một gia đình đạo dòng lâu đời, có đi chủng viện mấy năm, rồi phải về để chăm lo cho bà cụ khi ông tôi mất. Mẹ tôi xuất thân từ một gia đình Nho giáo đông con đã trở lại đạo cả nhà. Cho nên anh chị em tôi pha lẫn căn bản công giáo và Nho giáo. 

Ba chị em gái và ba anh em trai chúng tôi sống tới trưởng thành, bây giờ chỉ còn ba trai sinh kế tiếp nhau còn sống (anh cả là Vénard Nguyễn Đình Bá, thuộc Dòng Thánh Giuse, nay sáp nhập Dòng Ngôi Lời). 

Cha tôi ở chủng viện cho nên đã học chữ Hán, tiếng Pháp, tiếng La tinh và chữ quốc ngữ (chữ quốc ngữ do các thừa sai Âu châu sáng chế và thời đó chỉ có người công giáo dùng trong đạo và một thiểu số bên ngoài dùng trên ít sách báo mà thôi. Trường học thời vua quan trước kia chỉ dạy chữ Hán làm tiếng chính thức trong giấy tờ và văn học, một thứ chữ rất khó học vì rườm rà và khộng sát với tiếng nói thông thường của người dân. Khi người Pháp sang cai trị chuyển trường sang dạy tiếng Pháp, trường chỉ mở ở những thành phố mà thôi. Cha tôi và mấy ông cậu của tôi là nông dân khá giả tai mắt trong làng, tuy không giàu có vì là vùng mới thành lập. 

Đặc biệt cánh đồng rộng lớn vùng Gò Thị và lân cận rất thấp ở gẩn ngang mực nước sông biển, cho nên người dân phải đắp đê dọc đầm Thị Nại và sông Gò Bồi để ngăn nước thủy triều, tuy đất phì nhiêu, nhưng hay bị nắng hạn làm cho nước mặn thâm nhập vào ruộng hoặc bão lụt lâu ngày làm mất thu hoạch mùa màng. Nhưng quê tôi đất cao, lại có nước ngọt nhỉ liên lỉ từ bãi cát cho nên không sợ mất mùa. Ngay cả thời kháng chiến, Việt Minh cũng không dám vào xóm công giáo thuần túy, vì thế, chúng tôi được sống thoải mái hơn những nơi khác trong 9 năm kháng chiến mà Liên khu V từ Quảng Nam đến Đèo Cả thuộc vùng cai trị của cộng sản theo chính sách bế môn tỏa cảng. Những năm cuối thời Ngô Đình Diệm, quê tôi bị nhiễu hại bởi cs nằm vùng và bị tàn phá vì chiến tranh. Người dân công giáo đã nếm mùi bách hại và nhà cửa đổ nát phải di chuyển đi sinh sống ở các nơi khác Sau năm 1975, một số rất đông dân công giáo trong vùng Gò Thị cũng di chuyển đi nơi khác. Bây giờ nghe nói bán đảo Phương Mai được nối liền với thành phố Qui Nhơn qua con cầu dài nhất Việt Nam (2,5 cây số), và Phương Mai với Qui Nhơn nằm trong dự án lớn Nhơn Hội, phát triển du lịch và ngành đánh cá.



(2)


Cha tôi, Nguyễn Vỹ, là một người vóc trung bình, không có râu, dáng khoan thoai trang nghiêm. Cha tôi và anh em chúng tôi không hút thuốc lá, uống rượu, hay cờ bạc. Nhiều khi vì là người tai mắt trong làng, người làng thường đem rượu mời mọc cha tôi tham dự những buổi lễ gia đình hay làng xóm, nhưng cha tôi chỉ nhấp chút rượu đúng theo phép lịch sự mà thôi. Cha tôi có khi cũng chơi bài “kiệu” trong nhà với vài người bạn tuổi trang lứa, lối chơi bài này chỉ có hai người chơi, có bề tính toán trong yên tịnh. Cha tôi không đánh đập con cái, có khi muốn răn dạy điều gì thì chỉ bắt nằm xuống răn bảo hay nhấp nhẹ vài roi để chúng tôi khiếp sợ mà sửa mình. Tôi còn nhớ có một lần duy nhất khi cha tôi bắt đầu dạy vần quốc ngữ rồi đi làm mà tôi bỏ đi chơi không học, chiều về cha tôi bắt tôi nằm xuống trên giường, nhấp nhá chiếc roi thôi, thế là ba tuần lễ sau, tôi đã bắt đầu đọc sách thông xuôi được. Cha tôi chú trọng vấn đề học hành, cho nên dành để cho con trai chúng tôi rỗi rãi để tâm vào việc học.

Về việc đạo, cha tôi lo cho chúng tôi học giáo lý và rước lễ vỡ lòng lúc độ 8 tuổi. Cha tôi cũng có một số sách đạo mà cha tôi đã dùng khi ở chủng viện để cho chúng tôi xem. Những sách này hầu hết in tại nhà in Thánh Gia của các thừa sai người Pháp tại Hồng Kông. (Sách vở ở Việt Nam thời đó rất hiếm và đắt tiền). Ở Việt Nam lúc đó, giáo dân trong xứ hay ở họ lẻ đều đến nhà thờ riêng trong họ để đọc kinh sớm tối theo tiếng trống mời gọi. Ngày Chúa nhật thì có thêm giờ kinh trưa cho đủ ba cỗ chuổi Mân Côi. Mỗi thứ hai có giờ kinh ngắm Dấu đanh cầu cho các linh hồn đã qua đời vào giờ kinh tối. Mỗi thứ sáu có giờ ngắm đàng thánh giá. Ngày thứ bảy có giờ ngắm Bảy sự thương khó Đức Bà. Những lễ lớn có buổi kinh trong thể hơn với hát xướng hay buổi rước kiệu. Giáo dân trong nhà thờ được phân chia hai bên: bên phải cho phái nam, bên tả cho phái nữ, trẻ con thì ngồi phía trước, người lớn tuổi ngồi phía dưới cùng. Các câu biện thì ngồi ở ghế lẻ ở hàng giữa. Các câu biện chia nhau xướng kinh trong nhà thờ. Cha tôi luôn đề cao trách nhiệm, học vấn, đời sống luân lý và danh dự cho gia đình theo khuôn khổ Nho giáo và đạo Công giáo.

Tính cha tôi hiền từ, đối xử đúng đắn và thương yêu giúp đỡ mọi người, cho nên được mọi người trong làng kính nể. Chúng tôi thừa hưởng được cái tốt đẹp của nếp sống người cha trong suốt cuộc đời chúng tôi. Người anh cả đi tu, còn người em trai út sau này nhiều lúc được làm chủ tịch trong làng và câu trong họ, vẫn luôn là người được ai biết đến cũng nể vì yêu thương dù bận bịu gia đình đông con. Phần tôi, tôi vẫn luôn giữ nếp nhà mà cha tôi đã làm gương. Nhiều người trong các làng lân cận hay xa hơn cũng biết đến thanh danh của gia đình cha tôi. Cha mẹ tôi cũng thường tiếp đón niềm nỡ các linh muc, tu sĩ, cho nên họ quý trọng gia dình cha mẹ nhiều.

Mẹ tôi, Võ Thị Tiện, xuất thân từ gia đình Nho giáo, cần cù tỉ mỉ chăm lo gia đình. Cái ăn cái mặc, sạch sẽ trật tự trong nhà được mẹ tôi đảm đang. Việc đồng áng, mẹ tôi làm việc rất giỏi, cấy lúa, làm cỏ ruộng, gặt hái, rồi xay lúa, giã gạo, mẹ tôi cũng làm tất. Chợ búa mẹ tôi không nề hà gồng gánh đi xa để mua sắm vải bô, thức ăn, v. v. Áo quần trong gia đình, mẹ tôi cắt may đầy đủ. Việc bếp núc do phong tục được người mẹ và các chị em gái chăm lo. Vì ở gần sông biển cho nên cá tươi là thức ăn chính cho gia đình. Mỗi chiều, gia đình sum họp quanh bữa cơm nóng ngon lành, chúng tôi luôn nhớ đến công khó với hết tình yêu thương sâu xa của mẹ tôi. Tuy mẹ tôi tính nóng, nhưng chúng tôi luôn được người cha hiền lành bênh vực theo lẽ phải. Trong những năm kháng chiến, chúng tôi càng cảm phục lòng cha mẹ yêu thương nhẫn nhục chịu đựng gian khổ để gia đình vẫn được thoải mái và sung sướng.

Tôi tưởng nhớ với lòng cảm phục người chỉ cả tôi, Nguyễn Thị Tòng. Chị là người con lớn nhất trong gia đình, cho nên chị phải học đòi và giúp đỡ mẹ tôi hoặc phải đảm đang việc nhà khi mẹ tôi bận quá nhiều việc hay phải đi vắng. Chị cũng chăm lo cho các em đủ điều với hết lòng yêu thương. Chị có gia đình sớm, rồi khi người chồng và người cha chồng mất trong khoảng thời gian cách gần nhau lúc chị mới 29 tuổi với bốn đứa con còn thơ dại. Chị vẫn thủ tiết sống suốt đời một mình và cáng đáng hết mọi việc nuôi dưỡng đàng hoàng dạy dỗ các con cho đến khôn lớn nên người.

Khi tôi mới lớn lên, cha tôi dạy tôi học vần quốc ngữ cho biết đọc sách, và cũng dạy cho tôi ọc tiếng La tinh (để giúp linh mục trongThánh lễ mà trước năm 1950 mà mọi nghi lễ trong đạo còn bắt buộc dùng chữ La tinh trên khắp thế giới), và một ít chữ Pháp. Lúc 9 tuổi, cha tôi cũng gửi tôi học chữ Hán để có thể đọc những giấy tờ ruộng đất trong gia đình toàn viết bằng chữ Hán là tiếng chính thức của thời đế chế. Tôi chỉ học chữ Hán sử dụng giấy bản bút lông được một tháng hè, rồi nghỉ học để vào tu viện theo gót anh cả tôi.

Tiếp theo đó, cha tôi lo cho các anh chị em chúng tôi (nhất là con trai, vì thời đó người con trai là rường cột trong gia đình) đi học trường ở họ đạo. Trường dạy tiếng Pháp chỉ có ở Qui Nhơn, đắt tiền, để đào tạo những người làm công chức với chính phủ bảo hộ Pháp, hoặc cho lớp khá giả trong xã hội trong dịch vụ thương mại. Những trường nhỏ khác ở thôn quê đa số do Giáo Hội công giáo chăm lo, cốt là để việc học đạo và đọc sách đạo quen với đời sống đạo đức. Những trường này chỉ dạy cấp sơ học, nghĩa là dạy cho dân biết đọc, biết viết, biết tính toán và khoa học thường thức mà thôi. Tuy đã có mở khoa thi Sơ học Yếu lược, nhưng bằng cấp không được thừa nhận có giá trị gì.

Dù quê tôi là một họ đạo lẻ, nhưng được may mắn là có một tu sĩ Dòng Thánh Giuse đến coi trường. Tôi được học qua ba thầy Barnabê, Thomas và Ta-đê-ô. Tôi khá thông minh cho nên việc học rất dễ dàng. Trong lớp học trò có tuổi rất chênh lệch nhau, nhưng bạn bè rất trọng vọng tôi vì tôi còn nhỏ mà học giỏi, lại sẵn sàng giúp đỡ chỉ vẽ cho bạn bè chậm trí hơn. Các cô lớn vẫn thường mua quà bánh cho tôi để tỏ dạ biết ơn sự giúp đỡ của tôi. Thầy giáo thời bấy giờ rất nghiêm khắc và có thể dung roi vọt phạt học sinh, cho nên các cô sợ thầy lắm. Nhưng tôi lại được sự yêu thương cưng chiều đặc biệt của thầy. Sau ba năm học, tôi đi thi đậu bằng Sơ học Yếu lược với ghi chú đã qua khảo hạch căn bản Pháp văn tốt đẹp. Cha xứ đã có ý định chọn tôi nhập chủng viện, nhưng tôi bị Địa phận từ chối vì mẹ tôi là đạo mới theo. Vì thế, cha tôi cho tôi nhập Dòng Thánh Giuse theo anh tôi đã vào hai năm trước đó.

(thư tháng 1/2009)

Đăng nhận xét

0 Nhận xét