RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG

 

MỸ BỎ RƠI VIỆT NAM CỘNG HÒA



Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ, đất nước Việt Nam bị chia đôi ra hai miền: Miền Bắc do Cộng sản cai trị và Miền Nam giao cho phe Quốc gia. Tiếp theo đó, Hoa Kỳ muốn ngăn chận sự bành trướng của Trung Hoa cộng sản ở Á châu, đã ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa kể từ thời tổng thống Eisenhower, nhưng một sai lầm tai hại của chính quyền Kennedy ủng hộ các tướng lãnh phản loạn giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm. 

Các tướng lãnh không biết gì về hành chánh và chính trị đê nắm quyền hữu hiệu. Sự trở mặt sau 9 năm của chính phủ Mỹ yểm trợ nhà ái quốc Ngô Đình Diệm cai trị Miền Nam trong cuộc sống phồn thịnh, đã khiến cho dân Việt Nam ngỡ ngàng hết tin tưởng tài cán của các tướng cũng như thiện chí của Hoa Kỳ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa trong Thế giới Tự do.  Sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, tình trạng Miền Nam hỗn loạn ngay ngày hôm sau, rồi cuộc chỉnh lý cuối tháng 1-1964 do tướng Khánh điều động cũng không cứu vãn được, tổng thống Johnson muốn chữa lại uy tín của Hoa Kỳ, tức tốc đổ nhiều tiền bạc viện trợ cho Việt Nam cũng như đưa quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh vào tham chiến, nhưng cũng không giải quyết tình trạng rối rắm. Sau đó tổng thống Nixon bắt tay với Trung Cộng ký kết Hiệp định Paris năm 1973 để rút quân đội Mỹ về nước. Bắc Việt được Nga và Trung Cộng ủng hộ mạnh mẽ để xâm lăng Miền Nam cô độc. Việc giết hại tổng thống Ngô Đình Diệm đã là điềm báo trước cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa năm 1975.

Cơ quan USAID cũng theo đó phải chấm dứt hoạt động hỗ trợ chính quyền Miền Nam. Một phái đoàn từ văn phòng trung ương USAID sang Việt Nam để thu một số hồ sơ quan trọng đem về Wahington, rồi các văn phòng USAID được lệnh hủy bỏ dần các hồ sơ tích lũy từ 1955 đến bấy giờ. Máy xén giấy tờ làm việc ngày đêm cũng không tài nào hoàn thành công việc, chúng tôi không còn sinh hoạt gì nữa chỉ phải lo xé bỏ các giấy tờ bằng tay nhưng cũng không kịp.

Ngân sách năm 1975 cho USAID bị cắt giảm hêt mức, và số nhân cả Mỹ và Việt bị thôi việc nhanh chóng. Ngành Giáo dục trước kia có đến 30 người Việt bây giờ chỉ còn lại 4 người cuối cùng kể cả tôi. Trong tháng ba và tư năm 1975, chúng tôi còn phải lo giúp đỡ làm giấy chứng cho những người Việt trước kia đã làm việc có liên hệ với hoạt động của Hoa Kỳ để họ có thể rời Việt Nam tránh sự trả thù của cộng sản Miền Bắc sẽ sớm nắm chính quyền toàn cõi Việt Nam. Nhưng vào những tuần cuối cùng, cổng vào cơ quan USAID cũng đóng kín chỉ còn lo cho nhân viên mình ra đi mà thôi. Ở Mỹ, đã có các trại chuẩn bị tiếp đón người tỵ nạn Việt Nam theo lệnh của tổng thống Ford.


Số cố vấn Mỹ làm việc chỉ còn một số ít người. Họ phải theo dõi một mật hiệu trên radio luôn phải túc trực báo tin lúc nào phải ra đi cấp tốc, tài sản tư của họ kẹt lại sẽ được chính phủ đền bù. Còn nhân viên Việt Nam sẽ đến túc trực tại văn phòng chờ được giúp đỡ đưa đi rời khỏi Việt Nam sang Hoa Kỳ. Mọi diễn tiến đều kín đáo để tránh sự hoang mang và hỗn loạn cho người Việt Nam. Chúng tôi đến trụ sở đường Lê Văn Duyệt chỉ còn ngồi nói chuyện gẫu. Có người nhận giấy đi công tác Đà Nẵng, phải hủy bỏ, vì đã có tin một nhân viên làm việc cho Mỹ bị giết bêu thây trên cây. Một anh bạn có người em làm truyền tin ở Đà Nẵng gọi cho biết người em đã bị Việt Cộng giữ lại làm việc tại máy truyền tin, cậu em báo cho người anh biết là sẽ sớm gặp nhau sau vài ngày nữa. Anh bạn đó cho chúng tôi biết là anh đã mua sẵn thuốc độc để pha vào thức ăn để cả gia đình tự tử nếu không ra đi được vì không thể sống với cộng sản. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi để được gọi từng nhóm nhỏ đến một điểm hẹn kín và xe buýt sẽ đưa vào phi trường Tân Sơn Nhất cùng gia đình.

Một tuần trước ngày 30-4-1975, chúng tôi vào văn phòng thấy những cố vấn Mỹ thình lình biến mất tất cả. Rồi từng nhóm chúng tôi được gọi đến họp ở một phòng riêng để chuẩn bị ra đi. Những người nhóm này phải hối hả trở về gia đình thu xếp gấp đến chỗ hẹn lên xe buýt vào phi trường gấp, những người bạn còn lại cũng không thể hỏi được câu nào khi họ trở lại văn phòng vài phút thôi để lấy đồ đạc của mình. Sau này tôi biết tin là những nhân viên USAID cũng không đưa đi hết được vì số trong số người dân đông đảo ngoài đường Lê Văn Duyệt, có người ganh tỵ đã bắn súng lên trực thăng muốn hạ xuống bốc nốt độ 500 người cuối cùng đang chờ trên nóc thượng. Tôi được may mắn vì đó là chuyến cuối cùng được đưa đi, còn những người sau tôi đều bị kẹt lại.


RỜI BỎ QUÊ HƯƠNG


Ngày 27 (tháng 4 năm 1975) tôi được gọi ra đi, nhưng tôi vào báo tin cho một người em biết, cho nên tôi phải chờ ngày hôm sau. Mấy ngày trước đó, chúng tôi được phát lương cuối cùng và tiền bồi thôi việc bằng dollars, và chúng tôi cũng được đổi lấy $2000 (tức cả bó bạc Việt Nam) để mang theo. Việc đổi bạc cũng tốn nhiều thời giờ dể đếm số tiền lớn của nhiều người. Tôi phải thuyết phục vợ tôi (người Miền Nam chưa biết cái họa cộng sản) là tôi không thể ở lại Việt Nam được vì sẽ bị tù tội hay bị giết (3 tội quá nặng: cựu tu sĩ công giáo, sĩ quan Pháo binh, nhân viên USAID) và con tôi không thể học hành được với sự trừng phạt của chế độ mới. Tôi đã có kinh nghiệm sống 9 năm ở Bình Định với Việt Minh hoàn toàn kiểm soát liên khu V.

Bà bịn rịn khi nghĩ tới phải lìa xa họ hàng và quê hương, nhưng tôi nói tôi sẽ mang hai đứa con theo nếu bà không ra đi cùng với tôi. Vợ tôi đã lo chuẩn bị một ít hành lý để rời Việt Nam, còn nhà cửa, của cải bỏ hết. Tôi đã mua một lô đất gần cầu xa lộ chuẩn bị xây nhà mới, góp tiền hùn với anh Grégoire Thưởng trong trung tâm giải trí trẻ em ở Sở thú Sài Gòn cũng cứ phải quên đi. Tiền bạc gửi ngân hàng không thể rút ra được nữa. Vài bó tiền mặt trong nhà cũng vô dụng chỉ giữ một gói nhỏ để tiêu khi vào phi trường. Một người bạn giàu có muốn tặng tôi $2000 nếu tôi giúp gia đình ông theo tôi ra đi, tôi cũng không thể làm được. (Về sau tôi nghe tin cái nhà của tôi ngay sau ngày tôi ra đi đã bị niêm phong bởi chính quyền mới với bảng ghi: nhà đầy tớ làm cho xâm lăng Mỹ.) Ông bạn này sau đã sang California sum với đứa con đã du học và đã có  nhà riêng.


Ngày 28, sau khi nhận tin đến địa điểm xe buýt đưa vào Tân Sơn Nhất trong vòng nửa giờ. Tôi hối hả về nhà, giục vợ con đi ngay. Dọc đường về nhà, tôi đã thấy cảnh hỗn lọan trên đường Trương Minh Giảng chật đầy xe cộ và chen chúc người. Khu tôi ở gần nhà thờ Ba Chuông là nơi có nhiều chủ xe lam, tôi vội vã thuê một xe gần nhà đưa gia đình đi cấp tốc, dù phải trả giá bao nhiêu cũng được. Người láng giềng (công giáo người Bắc di cư) đã kháo láo với nhau là tôi đã làm việc cho Mỹ nhiều tiền rồi bây giờ còn được Mỹ đưa sang Hoa Kỳ. Gia đình tôi đến chỗ hẹn thì đã thấy xe buýt đầy người sắp chuyển bánh. Chúng tôi vào Tân Sơn Nhất vào xế chiều. Một người láng giềng đã gửi cho tôi một đứa con trai 18 tuổi đi theo. Ông cũng làm cho sở Mỹ trong phi trường và có xe đi vào dễ dàng. Nhưng vì đứa con trong tuổi quân dịch, ông nhờ tôi giúp đưa vào trước để khỏi bị kiểm soát, còn ông về đưa gia đình đông con vào sau. Rốt cục ông không vào được vì họ hàng không cho ông đi. Thế là tôi đành nhận cậu là cháu của tôi. (Nhiều năm sau gia đình ông mới đi sang Mỹ được.)


Vào phi trường, tôi đã thấy rất đông người chờ sẵn và xe hơi sang trọng. Những người giàu có mang theo nhiều vali tiền của, chờ lên máy bay. Chúng tôi chờ đợi và chờ đợi theo chuyến bay dân sự sắp đến như những người bạn đi trước trực tiếp bay thẳng đến Hoa Kỳ. Người Mỹ cho khối người đông đảo biết là máy bay dân sự không đến được vì đêm qua Việt Cộng đã nã súng cối vào Tân Sơn Nhất làm hư phi đạo, và chúng tôi phải chờ trực thăng đến bốc chúng tôi đưa ra hạm đội thứ bảy đang ứng trực gần bờ biển. 


Trực thăng cũng chưa đến và đêm đó chúng tôi phải ở tại phi trường, trốn dưới các giao thông hào vì cộng sản vẫn thỉnh thoảng nã súng cối vào, viên đạn bay vi vút trên đầu chúng tôi. Ngày hôm sau mãi đến xế chiều mới được tin trực thăng đến, và mỗi người chỉ được phép xách theo một gói đồ mà thôi vì phải chừa chỗ có hạn trên máy bay để cứu số người đông đảo. Bấy giờ, các vali đều bị mở ra để chủ lựa chọn những vật tối cần mang theo, còn thì bỏ lại ngổn ngang trên mặt đất. Xe hơi cũng bỏ đi. 


Khoảng 2 giờ chiều, trực thăng Hải quân bay đến từng loạt để bốc người. Tiếng máy bay rền vang lấn át tiếng người chi huy lên trực thăng. Tuy phải sắp hàng cho có trật tự, nhưng trong giờ phút ngắn ngủi, ai nấy lo sợ vì trong đêm đã có úng nhỏ Việt cộng bắn lẻ tẻ ngoài chu vi phi trường, họ cố tranh giành ưu tiên lên máy bay sớm, thật là một cảnh hỗn loạn. Từng đợt máy bay đến và ra đi trong cảnh cát bụi tung trời mù mịt. Hai vợ chồng tôi với con mọn bao lần cố gắng, không thể chen lấn được với đám người tiến đến trực thăng, cho đến lúc chạng vạng tối, chúng tôi không còn thấy máy bay đến nữa. Người Mỹ chỉ huy bảo chúng tôi và một số ít người còn lại (kể cả một bà già khụm) vào tạm trú trong trại DAO (cơ quan quân sự của tòa đại sứ Hoa Kỳ) của Mỹ chờ đợi một chuyến cuối cùng vào khoảng 7, 8 giờ tối. Lòng tôi thật rối rắm, nhưng rồi máy bay đã đến bốc chúng tôi ra hạm đội. Thế là chúng tôi mới được yên tâm. Cám ơn Chúa!


Sẽ tiếp: TRÊN BIÊN CẢ, TẠI PHI LUẬT TÂN, Ở WAKE ISLANDS, TẠM TRÚ TẠI PHILADLPHIA, ĐỊNH CƯ Ở WISCONSIN….

Peter Nguyễn Hoàng

Đăng nhận xét

0 Nhận xét